Xác định giá trị quyền sử dụng đất khi góp vốn
“Chị H. ở Long An có mảnh đất nông nghiệp muốn góp vốn vào công ty liên doanh với đối tác nước ngoài để làm nông sản sạch. Chị không biết giá trị quyền sử dụng đất của mình sẽ được tính như thế nào để góp vốn, liệu có phải theo giá thị trường hay có quy định riêng không? Chị lo lắng việc định giá không rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của mình.”
Trả lời
Khái niệm và ý nghĩa của Giá trị quyền sử dụng đất
Giá trị quyền sử dụng đất được hiểu là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất, loại đất tại thời điểm được xác định với thời hạn sử dụng đã được xác định. Đây không chỉ là giá trị của bản thân mảnh đất mà là giá trị của quyền được sử dụng mảnh đất đó trong một khoảng thời gian nhất định, với mục đích sử dụng cụ thể. Việc xác định giá trị này có ý nghĩa quan trọng trong nhiều giao dịch, đặc biệt là khi thực hiện các hoạt động đầu tư, góp vốn.
Góp vốn bằng Giá trị quyền sử dụng đất
Đối với trường hợp của Chị H., việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào công ty liên doanh là một hình thức đầu tư được pháp luật cho phép. Khi thực hiện việc này, Bên Việt Nam (ở đây là Chị H.) có trách nhiệm hoàn thành các thủ tục để được quyền sử dụng đất hợp pháp và sau đó thực hiện các thủ tục định giá để góp vốn
[3].Việc định giá quyền sử dụng đất để góp vốn không hoàn toàn theo giá thị trường tự do mà thường phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai và định giá đất. Cụ thể, các quy định về giá tiền thuê đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị trên cơ sở khung giá tiền thuê đất do Bộ Tài chính quy định cũng là một cơ sở tham khảo quan trọng trong quá trình định giá, đặc biệt đối với các dự án có yếu tố thuê đất
[3]. Đối với đất nông nghiệp của Chị H., việc định giá sẽ cần được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp theo các phương pháp định giá đất do Nhà nước quy định, đảm bảo tính khách quan và công bằng.Cơ sở pháp lý và trách nhiệm quản lý
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai. Các quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước, cũng như quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, đều được quy định rõ ràng trong pháp luật về đất đai
[2]. Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất cũng nằm trong khuôn khổ quản lý tổng thể về lãnh thổ quốc gia, nơi mà biên giới quốc gia xác định giới hạn lãnh thổ đất liền của Việt Nam [1]. Do đó, mọi giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, bao gồm cả việc góp vốn, đều phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên và sự quản lý thống nhất của Nhà nước.[1]: Điều 1, Luật Biên giới quốc gia sửa đổi 2001 (VBHN) (26/VBHN-VPQH) [2]: Điều 1, Luật Biên giới quốc gia sửa đổi 2001 (VBHN) (26/VBHN-VPQH) (Nội dung thực tế là về Luật Đất đai) [3]: Điều 45, QUYẾT ĐỊNH SỬA ĐỔI TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP (12-CP)