peopleDân sự

Vô sinh và các quy định về hỗ trợ sinh sản

visibility0 lượt xemgavel3 trích dẫn pháp lýupdate10/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personChị Hằng· Hà Nội· Nhân viên văn phòng

Chị Hằng ở quận Ba Đình, Hà Nội, là một nhân viên văn phòng đã kết hôn được 3 năm. Vợ chồng chị đã cố gắng có con tự nhiên nhưng vẫn chưa thành công. Chị muốn biết liệu trường hợp của mình có được coi là **vô sinh** theo quy định pháp luật để có thể thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hay không.

task_altTrả lời

Trả lời

Định nghĩa pháp luật về Vô sinh

Theo quy định tại Nghị định số 207/2025/NĐ-CP, vô sinh được định nghĩa là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người phụ nữ vẫn không có thai; hoặc phụ nữ, nam giới có khuyết tật hoặc tình trạng bệnh lý dẫn đến suy giảm khả năng sinh con. Dựa trên thông tin chị cung cấp, trường hợp của vợ chồng chị, sau 3 năm kết hôn và cố gắng có con tự nhiên mà chưa thành công, có thể được xem là vô sinh theo định nghĩa này.

Điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Việc áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải tuân theo nguyên tắc chỉ được thực hiện đối với các cặp vợ chồng vô sinh hoặc có chỉ định về y tế, và phụ nữ độc thân có nguyện vọng[1]. Điều này có nghĩa là, nếu vợ chồng chị được xác định là vô sinh theo định nghĩa trên, chị hoàn toàn có quyền tiếp cận và thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại các cơ sở y tế được cấp phép.

Cụ thể hơn, các điều kiện để nhận tinh trùng, noãn, hoặc phôi cũng quy định rõ ràng về tình trạng vô sinh. Ví dụ, người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng. Tương tự, người nhận noãn phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai[2].

Quyền được chăm sóc sức khỏe sinh sản

Pháp luật Việt Nam cũng đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe sinh sản cho cá nhân và cặp vợ chồng. Theo đó, cá nhân, cặp vợ chồng được quyền tiếp cận đầy đủ, bình đẳng và không bị phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Việc điều trị vô sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng bệnh, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về bảo hiểm y tế[3]. Điều này khẳng định quyền của vợ chồng chị trong việc tìm kiếm các giải pháp y tế để điều trị tình trạng vô sinh.

smart_toy
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạoNền tảng Tư Vấn Nhanh

gavelChú thích pháp lý