Trao đổi văn kiện trong ký kết điều ước quốc tế
“Chào luật sư, tôi đang làm ở Sở Ngoại vụ tỉnh Đồng Nai. Sắp tới, tỉnh tôi có kế hoạch hợp tác với một tổ chức nước ngoài về dự án môi trường, có thể sẽ ký kết một điều ước quốc tế. Tôi nghe nói có hình thức **trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế**. Vậy hình thức này hoạt động như thế nào, có khác gì so với việc ký kết thông thường không và tỉnh tôi có được áp dụng không ạ?”
Trả lời
"Trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế" là gì?
"Trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế" là một trong các hình thức để hình thành một điều ước quốc tế song phương. Theo quy định pháp luật Việt Nam, đây là việc trao đổi thư, công hàm hoặc các văn kiện có tên gọi khác giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bên ký kết nước ngoài, mà qua đó, các bên thể hiện sự đồng ý ràng buộc pháp lý và văn kiện đó trở thành điều ước quốc tế.
Khác với việc ký kết thông thường (mà các bên cùng ký vào một văn bản duy nhất), hình thức trao đổi văn kiện cho phép các bên đạt được thỏa thuận thông qua việc gửi và nhận các văn bản riêng lẻ, nhưng có cùng nội dung và ý chí cam kết. Đây là một phương thức linh hoạt, thường được sử dụng cho các thỏa thuận mang tính kỹ thuật, hợp tác cụ thể hoặc khi các bên muốn đơn giản hóa quy trình.
Quy định pháp luật và nguyên tắc áp dụng
Việc ký kết, bảo lưu, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện, lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, đăng tải, đăng ký và tổ chức thực hiện điều ước quốc tế đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Điều ước quốc tế 2016
[1]. Điều này có nghĩa là mọi hình thức hình thành điều ước, bao gồm cả trao đổi văn kiện, đều phải tuân thủ các quy định của Luật này.Khi ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, Việt Nam luôn tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như không trái với Hiến pháp, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và các nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế. Đặc biệt quan trọng là phải bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, phù hợp với đường lối đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
[2].Cụ thể về việc trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế, việc này được thực hiện theo các quy định về ký kết điều ước quốc tế
[3].Tỉnh/thành phố có được áp dụng hình thức này không?
Đối với câu hỏi của Anh H.T.K về việc tỉnh Đồng Nai có được áp dụng hình thức trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế hay không, cần lưu ý rằng điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam. Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế thuộc về các cơ quan nhà nước ở cấp trung ương, cụ thể là Chủ tịch nước, Chính phủ, hoặc các Bộ, cơ quan ngang Bộ theo sự ủy quyền của Chủ tịch nước hoặc Chính phủ.
Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm Sở Ngoại vụ tỉnh Đồng Nai, không có thẩm quyền trực tiếp ký kết điều ước quốc tế theo quy định của Luật Điều ước quốc tế 2016
[1]. Tuy nhiên, các địa phương có thể ký kết các thỏa thuận quốc tế hoặc các văn bản hợp tác với các đối tác nước ngoài. Các thỏa thuận này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, phù hợp với đường lối đối ngoại của Nhà nước, và thường phải có sự chấp thuận hoặc ủy quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương (ví dụ: Bộ Ngoại giao, Chính phủ). Do đó, tỉnh Đồng Nai không thể tự mình thực hiện việc trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế mà phải thông qua quy trình và thẩm quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.