peopleDân sự
Quyết định hành chính bị kiện
visibility0 lượt xemgavel3 trích dẫn pháp lýupdate12/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personAnh N.M.T· TP. Hồ Chí Minh· Chủ nhà hàng
“Tôi là chủ một nhà hàng nhỏ ở Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Gần đây, nhà hàng của tôi nhận được một quyết định thu hồi giấy phép kinh doanh. Quyết định này do Trưởng phòng Kinh tế Quận 1 ký, nhưng có ghi rõ là 'thừa ủy quyền Chủ tịch UBND Quận 1'. Tôi thấy quyết định này không hợp lý và muốn khởi kiện, nhưng không rõ tôi phải kiện ai, Trưởng phòng hay Chủ tịch UBND Quận?”
task_altTrả lời
Trả lời
1. Hiểu đúng về "Quyết định hành chính bị kiện"
Quyết định thu hồi giấy phép kinh doanh của Anh N.M.T chính là một loại quyết định hành chính bị kiện. Theo quy định, đây là quyết định làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [2]. Việc thu hồi giấy phép kinh doanh rõ ràng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà hàng Anh N.M.T.2. Xác định chủ thể bị kiện khi quyết định được ký thừa ủy quyền
Trường hợp quyết định hành chính do Trưởng phòng Kinh tế Quận 1 ký nhưng ghi rõ 'thừa ủy quyền Chủ tịch UBND Quận 1', thì theo hướng dẫn, quyết định hành chính đó được xác định là của người đảm nhiệm chức vụ, chức danh có thẩm quyền, tức là của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 1 [2]. Điều này có nghĩa là, khi Anh N.M.T thực hiện việc khởi kiện, người bị kiện trong vụ án hành chính sẽ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 1, chứ không phải Trưởng phòng Kinh tế Quận 1.3. Quyền và trình tự khởi kiện vụ án hành chính
Anh N.M.T có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật [1]. Luật Tố tụng hành chính quy định những nguyên tắc cơ bản, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan liên quan, cũng như trình tự, thủ tục khởi kiện và giải quyết vụ án hành chính [3]. Để khởi kiện, Anh N.M.T cần chuẩn bị đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyết định hành chính bị kiện và nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.smart_toy
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạo — Nền tảng Tư Vấn Nhanh
gavelChú thích pháp lý
[1]
Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP quy định: “...Trường hợp quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do một người cụ thể ký hoặc thực hiện, nhưng người đó ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính với danh nghĩa một chức vụ, chức danh có thẩm quyền thì quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là của người đảm nhiệm chức vụ, chức danh đó. · Số 1492/VKSTC-V14 V/v Giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng quy định của LTTHC năm 2015 và nghiệp vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính trong ngành KSND
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 1492/VKSTC-V14
Nội dung điều luật
Điều 2 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP quy định: “...Trường hợp quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do một người cụ thể ký hoặc thực hiện, nhưng người đó ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính với danh nghĩa một chức vụ, chức danh có thẩm quyền thì quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là của người đảm nhiệm chức vụ, chức danh đó.
Ví dụ: Quyết định hành chính do ông Nguyễn Văn A ký với danh nghĩa Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B thì gọi là quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B mà không gọi là quyết định hành chính của ông Nguyễn Văn A”.
Trên cơ sở tham khảo quy định trên, quyết định hành chính được Trưởng phòng của UBND huyện ký thừa ủy quyền Chủ tịch UBND huyện thì xác định là quyết định hành chính của Chủ tịch UBND huyện. Quyết định hành chính này bị khiếu kiện thì người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện, căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật TTHC năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh.
7. Người không phải là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định hành chính, hành vi hành chính nhưng có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính không?
Trả lời:
Các khoản 2 và 4 Điều 3 Luật TTHC 2015 quy định: “Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm
[2]
Luật tố tụng hành chính về quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ quy định: “...3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho đương sự biết để họ thực hiện quyền, tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều 98”. Đây là giai đoạn Tòa án đã thụ lý vụ án hành chính và quy định thời hạn để Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự biết về việc các bên đương sự đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 83 và khoản 1 Điều 128 Luật tố tụng hành chính đến Tòa án chỉ nhằm mục đích cho các bên biết tài liệu, chứng cứ mà họ đưa ra để thực hiện quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ. (Ví dụ: sau khi Tòa án đã nhận được các tài liệu, chứng cứ mà các bên đương sự giao nộp cho Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 83 Luật tố tụng hành chính thì sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án nhận được hoặc hết thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Luật tố tụng hành chính, Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự biết để các bên đương sự thực hiện quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ như: sao chụp, đọc... các tài liệu đó). · Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành; các quy định khác tại Nghị quyết sửa đổi 2017
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 01/2017/GĐ-TANDTC
Nội dung điều luật
Điều 98 Luật tố tụng hành chính về quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ quy định: “...3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho đương sự biết để họ thực hiện quyền, tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều 98”. Đây là giai đoạn Tòa án đã thụ lý vụ án hành chính và quy định thời hạn để Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự biết về việc các bên đương sự đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 83 và khoản 1 Điều 128 Luật tố tụng hành chính đến Tòa án chỉ nhằm mục đích cho các bên biết tài liệu, chứng cứ mà họ đưa ra để thực hiện quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ. (Ví dụ: sau khi Tòa án đã nhận được các tài liệu, chứng cứ mà các bên đương sự giao nộp cho Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 83 Luật tố tụng hành chính thì sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án nhận được hoặc hết thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Luật tố tụng hành chính, Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự biết để các bên đương sự thực hiện quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ như: sao chụp, đọc... các tài liệu đó).
Theo các quy định nêu trên thì hai thời hạn này được áp dụng đối với hai nội dung khác nhau nên không mâu thuẫn với nhau.
3. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính tịch thu tài sản, nhưng người bị tịch thu tài sản không giao nộp tài sản cho cơ quan có thẩm quyền mà b
[3]
Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Luật Tố tụng hành chính · Luật Tố tụng hành chính sửa đổi 2025 (VBHN)
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 109/VBHN-VPQH
Nội dung điều luật
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Luật Tố tụng hành chính
Luật Tố tụng hành chính quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trình tự, thủ tục khởi kiện, giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.
Luật Tố tụng hành chính góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; bảo đảm tính ổn định, thông suốt và hiệu lực của nền hành chính quốc gia