peopleDân sự

Quy định về thuê bao viễn thông và từ chối cung cấp dịch vụ

visibility0 lượt xemgavel4 trích dẫn pháp lýupdate9/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personAnh N.V.H· TP.HCM· Tài xế công nghệ

Tôi là anh N.V.H, làm tài xế công nghệ ở TP.HCM. Gần đây, tôi có đổi số điện thoại nhưng nhà mạng lại từ chối kích hoạt vì bảo tôi có nợ cước từ số cũ của người khác. Tôi không hiểu sao lại thế, tôi có phải là thuê bao viễn thông đó đâu mà họ lại làm khó tôi như vậy?

task_altTrả lời

Trả lời

Chào anh H., vấn đề anh đang gặp phải liên quan đến định nghĩa và quyền lợi của thuê bao viễn thông cũng như các quy định về việc từ chối cung cấp dịch vụ. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Khái niệm "Thuê bao viễn thông"

Theo quy định của pháp luật, thuê bao viễn thông được hiểu là "người sử dụng dịch vụ viễn thông có gắn với việc ấn định tài nguyên viễn thông hoặc đường truyền dẫn cụ thể". Điều này có nghĩa là, để được coi là thuê bao viễn thông của một số điện thoại hoặc đường truyền cụ thể, anh phải là người trực tiếp sử dụng dịch vụ đó và số điện thoại/đường truyền đó được ấn định cho anh. Các quy định này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động viễn thông tại Việt Nam [2].

Trong trường hợp của anh, nếu số điện thoại cũ mà nhà mạng nói có nợ cước không phải do anh đăng ký và sử dụng, thì anh không phải là thuê bao viễn thông của số đó. Do đó, nghĩa vụ thanh toán cước phát sinh từ số đó không thuộc về anh.

Quyền và nghĩa vụ của thuê bao viễn thông

Là một thuê bao viễn thông, anh có quyền được sử dụng dịch vụ và đồng thời có nghĩa vụ tuân thủ các quy định pháp luật và hợp đồng đã ký. Ví dụ, người sử dụng dịch vụ viễn thông (tức thuê bao viễn thông) có trách nhiệm bảo vệ mạng viễn thông và thiết bị đầu cuối [3]. Các quy định về hoạt động viễn thông, quyền và nghĩa vụ của các bên đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Viễn thông [1].

Các trường hợp nhà mạng được từ chối cung cấp dịch vụ

Doanh nghiệp viễn thông không được phép từ chối giao kết hợp đồng với người sử dụng dịch vụ viễn thông (tức thuê bao viễn thông) trừ một số trường hợp cụ thể được pháp luật cho phép [4]. Các trường hợp này bao gồm:

* Người sử dụng dịch vụ đã từng vi phạm hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông đã giao kết với doanh nghiệp viễn thông. * Việc cung cấp dịch vụ viễn thông là không khả thi về kinh tế, kỹ thuật. * Người sử dụng dịch vụ đã bị doanh nghiệp viễn thông có thỏa thuận bằng văn bản với doanh nghiệp viễn thông khác về việc từ chối cung cấp dịch vụ viễn thông theo hình thức trả sau do trốn tránh nghĩa vụ thanh toán tiền sử dụng dịch vụ. * Có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Nếu anh là một khách hàng mới, đăng ký một số điện thoại mới và chưa từng có bất kỳ vi phạm hợp đồng nào với nhà mạng đó hoặc bất kỳ nhà mạng nào khác (mà có thỏa thuận từ chối), thì việc nhà mạng từ chối kích hoạt số điện thoại của anh chỉ vì một khoản nợ cước của người khác trên một số cũ là không đúng quy định pháp luật. Anh có quyền yêu cầu nhà mạng chứng minh rằng anh chính là thuê bao viễn thông của số điện thoại cũ có nợ cước đó, hoặc chứng minh rằng anh thuộc một trong các trường hợp được phép từ chối cung cấp dịch vụ theo quy định tại Điều 22 Luật Hoạt động giám sát của quốc hội và hội đồng nhân dân sửa đổi 2023 [4].

[1]: Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, Văn bản: 24/2025/QH15 (24/2025/QH15) [2]: Điều 2. Đối tượng áp dụng, Văn bản: 24/2025/QH15 (24/2025/QH15) [3]: Điều 5. Bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng viễn thông , an toàn thông tin mạng và an ninh thông tin, Văn bản: 24/2025/QH15 (24/2025/QH15) [4]: Điều 22. Từ chối cung cấp dịch vụ viễn thông, Văn bản: Luật Hoạt động giám sát của quốc hội và hội đồng nhân dân sửa đổi 2023 (VBHN) (33/VBHN-VPQH)

smart_toy
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạoNền tảng Tư Vấn Nhanh

gavelChú thích pháp lý