landscapeĐất đai

Quy định pháp luật về Dịch vụ xây dựng

visibility0 lượt xemgavel3 trích dẫn pháp lýupdate12/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personAnh N.V.A· Hà Nội· Chủ công ty xây dựng

Chào luật sư, tôi là anh N.V.A, chủ một công ty xây dựng nhỏ ở quận Hà Đông, Hà Nội. Công ty tôi vừa nhận được thông báo mời thầu một dự án công cộng lớn, có nhắc đến 'dịch vụ xây dựng' theo CPC của Liên hợp quốc. Tôi muốn hỏi dịch vụ xây dựng được hiểu và quy định thế nào trong luật pháp Việt Nam, đặc biệt là về nghĩa vụ thuế và các quy định liên quan đến đấu thầu?

task_altTrả lời

Trả lời

1. Khái niệm và phạm vi điều chỉnh của Dịch vụ xây dựng

Trong bối cảnh pháp luật Việt Nam, khái niệm Dịch vụ xây dựng mà anh đề cập, thường được hiểu là các dịch vụ quy định tại mục 51 của Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm tạm thời (CPC) của Liên hợp quốc, bao gồm một phổ rộng các hoạt động từ chuẩn bị mặt bằng, xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, đến hoàn thiện công trình. Các hoạt động này chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật, trong đó có các quy định về thuế và mua sắm công.

Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 209/2013/NĐ-CP (VBHN) là một trong những văn bản quan trọng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, trong đó có đề cập đến các vấn đề liên quan đến hàng hóa, dịch vụ chịu thuế[1]. Điều này cho thấy dịch vụ xây dựng là đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT.

2. Nghĩa vụ thuế đối với Dịch vụ xây dựng

Đối với dịch vụ xây dựng, công ty của anh sẽ là người nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định. Cụ thể, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được gọi là cơ sở kinh doanh và là người nộp thuế[3]. Điều này có nghĩa là mọi doanh thu từ các hoạt động cung cấp dịch vụ xây dựng của công ty anh đều phải được kê khai và tính nộp thuế GTGT theo quy định hiện hành. Việc xác định giá tính thuế, thuế suất, phương pháp tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế và nơi nộp thuế sẽ tuân theo các quy định chi tiết trong Nghị định 146/2017/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn liên quan[1].

Trong trường hợp công ty anh mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú, thì công ty anh sẽ là người nộp thuế, trừ các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT cụ thể[3].

3. Dịch vụ xây dựng trong hoạt động mua sắm công

Đối với dự án công cộng mà công ty anh đang quan tâm, hoạt động mua sắm công đối với dịch vụ xây dựng sẽ được quy định cụ thể. Nghị định số 146/2017/NĐ-CP cũng quy định về mua sắm công đối với việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, và dịch vụ xây dựng thuộc phạm vi điều chỉnh của các Hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA, UKVFTA[2]. Điều này đặc biệt quan trọng vì các dự án lớn, có yếu tố quốc tế hoặc sử dụng vốn từ các Hiệp định này, sẽ phải tuân thủ các quy định rất chặt chẽ về quy trình đấu thầu, tiêu chuẩn kỹ thuật và các điều kiện khác để đảm bảo tính minh bạch và cạnh tranh.

Do đó, công ty anh cần nghiên cứu kỹ các phụ lục kèm theo Nghị định này và các quy định chi tiết của từng Hiệp định để đảm bảo hồ sơ dự thầu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu pháp lý, tránh những rủi ro không đáng có.

verified_user
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạoNền tảng Tư Vấn Nhanh
verifiedKiểm duyệt bởi Nguyễn Triệu Huấn · Phan Law Vietnam

gavelChú thích pháp lý