peopleDân sự
Phát hiện và xử lý bảo vật quốc gia
visibility0 lượt xemgavel3 trích dẫn pháp lýupdate10/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personChú Tám· Tỉnh An Giang· Nông dân
“Chào luật sư, tôi là nông dân ở Huyện An Phú, An Giang. Vừa rồi đào mương thoát nước cho ruộng lúa, tôi vô tình tìm thấy một cái lư đồng cũ lắm, nhìn rất cổ kính và có vẻ rất quý. Tôi nghe nói có thể đây là 'bảo vật quốc gia' thì không biết có đúng không và tôi phải làm gì với nó? Liệu tôi có bị rắc rối gì không nếu giữ lại?”
task_altTrả lời
Trả lời
Bảo vật quốc gia và quy định về sở hữu
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bảo vật quốc gia là di vật, cổ vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Khi một di vật, cổ vật được xác định là bảo vật quốc gia, nó sẽ thuộc sở hữu toàn dân, và Nhà nước sẽ đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý theo Hiến pháp và pháp luật [1]. Điều này có nghĩa là, dù chú Tám là người phát hiện, nhưng nếu vật phẩm đó được công nhận là bảo vật quốc gia, quyền sở hữu sẽ thuộc về toàn dân.Nghĩa vụ khi phát hiện và quyền lợi được hưởng
Khi chú Tám phát hiện ra lư đồng có giá trị lịch sử, văn hóa cao và nghi ngờ đó là bảo vật quốc gia, chú có nghĩa vụ phải tuân thủ pháp luật về di sản văn hóa [2]. Điều quan trọng nhất là kịp thời thông báo và tự nguyện giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch. Việc giữ lại mà không thông báo có thể gây rắc rối pháp lý cho chú.Đổi lại, nếu chú Tám thực hiện đúng nghĩa vụ này, chú sẽ được khen thưởng xứng đáng. Các hình thức khen thưởng có thể bao gồm Giấy khen, Bằng khen, Huy chương hoặc các hình thức khác tùy theo giá trị của lư đồng. Ngoài ra, chú còn được hưởng mức tiền thưởng theo quy định của pháp luật về việc xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy
[3].Các bước chú Tám cần thực hiện
Để tránh rủi ro và đảm bảo quyền lợi của mình, chú Tám nên liên hệ ngay với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Tỉnh An Giang hoặc chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân cấp xã/huyện) để thông báo về việc phát hiện lư đồng. Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành thẩm định giá trị của vật phẩm để xác định liệu nó có phải là bảo vật quốc gia hay không và hướng dẫn chú các thủ tục tiếp theo. Điều này không chỉ giúp bảo vệ di sản văn hóa mà còn đảm bảo chú được hưởng các chính sách khen thưởng của Nhà nước.verified_user
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạo — Nền tảng Tư Vấn Nhanh
verifiedKiểm duyệt bởi Lê Thị Ái Vân · Phan Law Vietnam
gavelChú thích pháp lý
[1]
Sở hữu di sản văn hóa · Luật Di sản văn hóa sửa đổi 2025 (VBHN)
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 66/VBHN-VPQH
Nội dung điều luật
Điều 4. Sở hữu di sản văn hóa
1. Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Nhân dân. Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ di sản văn hóa thuộc hình thức sở hữu riêng, sở hữu chung theo quy định của Hiến pháp, quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Di sản văn hóa được xác lập thuộc sở hữu toàn dân bao gồm:
a) Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản tư liệu và hiện vật thuộc di tích; hiện vật, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và di sản tư liệu thuộc các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chín
[2]
Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với di sản văn hóa · Luật Di sản văn hóa sửa đổi 2025 (VBHN)
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 66/VBHN-VPQH
Nội dung điều luật
Điều 5. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với di sản văn hóa
1. Quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cộng đồng, gia đình, dòng họ, pháp nhân, cá nhân đối với di sản văn hóa bao gồm:
a) Sở hữu hợp pháp di sản văn hóa; được thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;
b) Tham quan, nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa;
c) Khai thác, sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa;
d) Được Nhà nước khen thưởng theo quy định của pháp luật;
đ) Kinh doanh, mua bán, trao đổi, tặng cho, để thừa kế, thực hành, truyền dạy di sản văn hóa và các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cộng đồng, gia đình, dòng họ, pháp nhân, cá nhân đối với di sản văn hóa bao gồm:
a) Tuân thủ pháp luật về di s
[3]
Khen thưởng tổ chức, cá nhân phát hiện và giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia · Nghị định số 36/2019/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 98/2010/NĐ-CP (VBHN)
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 2166/VBHN-BVHTTDL
Nội dung điều luật
Điều 33. Khen thưởng tổ chức, cá nhân phát hiện và giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1. Hình thức khen thưởng
Tổ chức, cá nhân phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia mà kịp thời thông báo và tự nguyện giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch thì tùy theo giá trị của di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được xét tặng, truy tặng Giấy khen, Bằng khen, Huy chương hoặc các hình thức khen thưởng khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Mức tiền thưởng
Mức tiền thưởng đối với tổ chức, cá nhân có công phát hiện hoặc tự nguyện giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được thực hiện theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 96/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về việc xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy thuộc đất liền, các hải đảo và vùng biển Việt Nam.