peopleDân sự
Giá trị pháp lý của Thông điệp dữ liệu trong giao dịch điện tử
visibility0 lượt xemgavel3 trích dẫn pháp lýupdate12/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personChị M.T.H· Hà Nội· Chủ cửa hàng kinh doanh online
“Chào luật sư, tôi có một vấn đề thế này. Tôi bán hàng online ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Gần đây, tôi có giao dịch với một nhà cung cấp qua email và tin nhắn Zalo về việc đặt hàng và thanh toán. Giờ bên nhà cung cấp họ lại phủ nhận mấy cái email, tin nhắn đó. Luật sư cho tôi hỏi mấy cái tin nhắn, email này có được xem là bằng chứng pháp lý khi có tranh chấp không ạ?”
task_altTrả lời
Trả lời
Thông điệp dữ liệu: Chứng cứ cho các giao dịch trực tuyến
Chào chị M.T.H, về trường hợp của chị, các email và tin nhắn Zalo trao đổi với nhà cung cấp hoàn toàn có thể được xem là thông điệp dữ liệu và có giá trị pháp lý quan trọng trong các giao dịch. Theo quy định của pháp luật, thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Điều này bao gồm email, tin nhắn qua các ứng dụng, và các hình thức trao đổi kỹ thuật số khác.Phạm vi áp dụng của giao dịch điện tử
Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định rõ về các giao dịch điện tử trong nhiều hoạt động, bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh, thương mại như trường hợp của chị [1]. Điều này có nghĩa là các giao dịch mua bán, đặt hàng của chị thực hiện qua email hoặc Zalo đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật này. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có chị và nhà cung cấp, nếu lựa chọn giao dịch bằng phương tiện điện tử thì sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật này [2]. Do đó, việc nhà cung cấp phủ nhận các giao dịch điện tử có thể bị bác bỏ nếu có đủ cơ sở chứng minh.Sử dụng Thông điệp dữ liệu làm chứng cứ
Khi xảy ra tranh chấp, các thông điệp dữ liệu như email và tin nhắn Zalo có thể được sử dụng làm bằng chứng để bảo vệ quyền lợi của chị. Cụ thể, Luật Tố tụng hành chính 2015 đã liệt kê "thông điệp dữ liệu điện tử" là một trong các biện pháp để đương sự có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ [3]. Điều này cho thấy pháp luật đã công nhận giá trị của các thông tin điện tử trong quá trình giải quyết tranh chấp pháp lý. Chị nên lưu giữ đầy đủ các nội dung trao đổi này, bao gồm thời gian, người gửi, người nhận và nội dung cụ thể để làm cơ sở khi cần thiết.verified_user
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạo — Nền tảng Tư Vấn Nhanh
verifiedKiểm duyệt bởi Nguyễn Triệu Huấn · Phan Law Vietnam
gavelChú thích pháp lý
[1]
Phạm vi điều chỉnh · Luật Giao dịch điện tử 2005
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 51/2005/QH11
Nội dung điều luật
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định.
Các quy định của Luật này không áp dụng đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các bất động sản khác, văn bản về thừa kế, giấy đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn, giấy khai sinh, giấy khai tử, hối phiếu và các giấy tờ có giá khác.
[2]
Đối tượng áp dụng · Luật Giao dịch điện tử 2005
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 51/2005/QH11
Nội dung điều luật
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân lựa chọn giao dịch bằng phương tiện điện tử.
[3]
Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ · Luật Tố tụng hành chính 2015
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 93/2015/QH13
Nội dung điều luật
Điều 84. Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
1. Đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:
a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử;
b) Thu thập vật chứng;
c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;
đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;
e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;
h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong các trường hợp do Luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng;
c) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
d) Trưng cầu giám định;
đ) Quyết định định giá tài sản;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án;
h) Biện pháp khác theo quy định của Luật này.
3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này, T