domainDoanh nghiệp

Xử lý nợ không có khả năng thu hồi của doanh nghiệp nhà nước

visibility0 lượt xemgavel3 trích dẫn pháp lýupdate9/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personAnh T.V.H· Hà Nội· Kế toán trưởng

Chào Tuvannhanh.com, công ty tôi là một doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội, chuyên về xây dựng. Chúng tôi có một khoản công nợ lớn với một đối tác cũng là doanh nghiệp nhà nước nhưng đã ngừng hoạt động từ lâu, không còn tài sản và cũng không có ai đứng ra kế thừa nghĩa vụ trả nợ. Chúng tôi không biết phải làm sao để xử lý khoản nợ này cho đúng quy định pháp luật.

task_altTrả lời

Trả lời

Trường hợp của công ty Anh T.V.H liên quan đến việc xử lý khoản nợ của một khách nợ là doanh nghiệp nhà nước đã ngừng hoạt động, không có khả năng chi trả và không có người kế thừa nghĩa vụ trả nợ. Đây là tình huống thường được pháp luật xếp vào loại nợ khó đòi hoặc nợ không có khả năng thu hồi đối với doanh nghiệp nhà nước.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Việc quản lý và xử lý các khoản nợ tồn đọng của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được quy định tại Nghị định số 206/2013/NĐ-CP[1]. Đối tượng áp dụng của Nghị định này bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, như công ty của anh T.V.H và cả doanh nghiệp khách nợ đã ngừng hoạt động kia (nếu trước đây là doanh nghiệp nhà nước). Điều này đảm bảo rằng các quy định về xử lý nợ sẽ được áp dụng thống nhất cho cả bên chủ nợ và khách nợ trong trường hợp này.

Nguyên tắc và trách nhiệm của doanh nghiệp chủ nợ

Theo quy định, doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng và ban hành Quy chế quản lý nợ, trong đó xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc theo dõi, thu hồi, thanh toán các khoản nợ. Đối với các khoản nợ khó đòi hoặc không có khả năng trả nợ, doanh nghiệp phải thực hiện trích lập dự phòng theo quy định và tự tìm mọi biện pháp xử lý thu hồi nợ[2].

Cụ thể, công ty của anh T.V.H cần phải: * Mở sổ theo dõi các khoản nợ theo từng đối tượng nợ và thường xuyên phân loại các khoản nợ (nợ chưa đến hạn, nợ đến hạn, nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ không có khả năng thu hồi). * Đôn đốc thu hồi nợ và định kỳ đối chiếu công nợ. * Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên (Chủ tịch công ty), Tổng giám đốc (Giám đốc) doanh nghiệp có trách nhiệm xử lý kịp thời các khoản nợ phải thu khó đòi, nợ không thu hồi được.

Quy trình xử lý nợ không có khả năng thu hồi

Đối với khoản nợ mà công ty anh T.V.H đang gặp phải, thuộc loại nợ không có khả năng thu hồi, công ty có trách nhiệm xử lý. Số nợ không có khả năng thu hồi được sau khi trừ tiền bồi thường của cá nhân, tập thể có liên quan sẽ được bù đắp bằng khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng tài chính. Nếu vẫn còn thiếu, số tiền đó sẽ được hạch toán vào chi phí kinh doanh của công ty[3].

Điều quan trọng là, ngay cả khi đã xử lý theo các bước trên, công ty nhà nước vẫn phải theo dõi trên tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán và tiếp tục tổ chức thu hồi nếu có cơ hội. Số tiền thu hồi được sau này sẽ hạch toán vào thu nhập của công ty nhà nước[3]. Điều này nhấn mạnh nguyên tắc không từ bỏ hoàn toàn việc thu hồi nợ, dù đã ghi nhận là không có khả năng thu hồi.

verified_user
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạoNền tảng Tư Vấn Nhanh
verifiedKiểm duyệt bởi Nguyễn Triệu Huấn · Phan Law Vietnam

gavelChú thích pháp lý