Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường của Nhà nước
“Chị N.T.H ở Quận 1, TP.HCM, là chủ tiệm tạp hóa. Chị vừa nhận được một quyết định của Tòa án xác định việc cơ quan công an đã tạm giữ hàng hóa của chị trong 6 tháng là không đúng quy định pháp luật. Chị muốn biết liệu quyết định này có phải là 'văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường' để chị đòi bồi thường thiệt hại cho tiệm tạp hóa của mình không và chị cần làm gì tiếp theo?”
Trả lời
Quyết định của Tòa án mà chị N.T.H nhận được hoàn toàn có thể được xem là văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Đây là một yếu tố then chốt để chị có thể thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho tiệm tạp hóa của mình.
Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là gì?
Theo định nghĩa pháp luật, văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Trong đó, văn bản này phải xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc là bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường. Trong trường hợp của chị, quyết định của Tòa án xác định việc tạm giữ hàng hóa là không đúng quy định chính là văn bản đáp ứng tiêu chí này.
Các loại văn bản có giá trị tương tự
Ngoài bản án, quyết định của Tòa án, các văn bản khác có thể là căn cứ yêu cầu bồi thường bao gồm các quyết định hành chính bị hủy bỏ, quyết định kỷ luật công chức bị thu hồi, hoặc các kết luận của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ. Các văn bản pháp luật khác như nghị quyết của Quốc hội
[2] hay các công văn hướng dẫn của Bộ Tài chính [3] hoặc Tổng cục Hải quan [4] cũng là các văn bản có giá trị pháp lý, nhưng chúng có mục đích và nội dung khác nhau, không phải là căn cứ trực tiếp để yêu cầu bồi thường nhà nước trong trường hợp của chị.Thời hiệu yêu cầu bồi thường
Chị cần đặc biệt lưu ý về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Theo quy định tại Điều 6 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường
[1]. Điều này có nghĩa là chị phải nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường trong vòng 03 năm kể từ ngày chị nhận được quyết định của Tòa án. Nếu quá thời hạn này mà không có lý do chính đáng được pháp luật công nhận, quyền yêu cầu bồi thường của chị có thể sẽ bị mất.Sau khi đã có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, chị cần thu thập các giấy tờ, chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra do việc tạm giữ hàng hóa không đúng quy định. Chị có thể liên hệ với cơ quan có trách nhiệm bồi thường (thường là cơ quan đã gây ra thiệt hại hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp) để được hướng dẫn cụ thể về thủ tục nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường.