Tỷ lệ sở hữu cổ phần gián tiếp trong tổ chức tín dụng
“Chào luật sư, tôi là Chị H.T.M, một chủ doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Hiện tôi đang có một khoản tiền nhàn rỗi và muốn đầu tư vào một ngân hàng thương mại cổ phần. Tôi đã tìm hiểu thì biết có quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần đối với cá nhân. Tuy nhiên, tôi muốn đầu tư một phần thông qua công ty riêng mà tôi đang sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Vậy luật sư cho tôi hỏi, liệu số cổ phần tôi sở hữu thông qua công ty đó có bị tính vào tổng tỷ lệ sở hữu cá nhân của tôi tại ngân hàng đó không, và tôi cần lưu ý gì để tránh vi phạm quy định?”
Trả lời
Khái niệm sở hữu gián tiếp trong tổ chức tín dụng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, sở hữu gián tiếp là việc tổ chức, cá nhân sở hữu vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng thông qua hình thức ủy thác đầu tư hoặc thông qua một doanh nghiệp mà tổ chức, cá nhân đó sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Điều này có nghĩa là, ngay cả khi bạn không trực tiếp đứng tên trên cổ phiếu của ngân hàng, nếu bạn kiểm soát một doanh nghiệp sở hữu cổ phần đó (qua tỷ lệ vốn điều lệ trên 50%), thì phần sở hữu đó vẫn được xem là của bạn về mặt pháp lý
[3].Tỷ lệ sở hữu cổ phần và tác động của sở hữu gián tiếp
Pháp luật Việt Nam có các quy định chặt chẽ về tỷ lệ sở hữu cổ phần trong các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo sự ổn định và minh bạch của hệ thống ngân hàng. Cụ thể, một cổ đông là cá nhân không được sở hữu quá 05% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Đối với cổ đông là tổ chức, tỷ lệ này không được vượt quá 10% vốn điều lệ
[3].Điểm quan trọng mà chị H.T.M cần lưu ý là tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định cho cá nhân và tổ chức này bao gồm cả số cổ phần sở hữu gián tiếp
[3]. Do đó, việc chị H.T.M đầu tư vào ngân hàng thông qua công ty riêng mà chị sở hữu trên 50% vốn điều lệ sẽ được tính gộp vào tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần của chị tại ngân hàng đó. Điều này nhằm ngăn chặn việc lách luật thông qua các cấu trúc sở hữu phức tạp.Lưu ý để tránh vi phạm pháp luật
Để đảm bảo tuân thủ các quy định, chị H.T.M cần thực hiện các bước sau: