domainDoanh nghiệp
Tiềm lực quốc phòng theo Luật Quốc phòng
visibility0 lượt xemgavel3 trích dẫn pháp lýupdate10/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personAnh T.V.K· Quảng Ninh· Chủ xưởng cơ khí
“Tôi là chủ một xưởng sản xuất cơ khí ở thành phố Móng Cái, Quảng Ninh. Gần đây, tôi có nghe nói về 'tiềm lực quốc phòng' và thấy nó liên quan đến cả kinh tế. Tôi không rõ liệu xưởng của tôi có thể đóng góp gì vào tiềm lực này không, và liệu nhà nước có chính sách gì để khuyến khích các doanh nghiệp như chúng tôi tham gia không?”
task_altTrả lời
Trả lời
Tiềm lực quốc phòng là gì?
Theo định nghĩa được quy định, tiềm lực quốc phòng là khả năng về nhân lực, vật lực, tài chính, tinh thần ở trong nước và ngoài nước có thể huy động để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Điều này cho thấy tiềm lực quốc phòng không chỉ giới hạn ở sức mạnh quân sự mà còn bao gồm tổng hòa các nguồn lực của quốc gia, có thể được khai thác và sử dụng cho mục đích bảo vệ Tổ quốc.Doanh nghiệp đóng góp vào tiềm lực quốc phòng như thế nào?
Với vai trò là chủ một xưởng sản xuất cơ khí, hoạt động kinh doanh của anh T.V.K hoàn toàn có thể đóng góp vào việc xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng của đất nước. Cụ thể, xưởng của anh cung cấp vật lực dưới dạng sản phẩm cơ khí, máy móc, công nghệ; tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng và kinh nghiệm; và đóng góp vào tài chính quốc gia thông qua thuế, tạo việc làm, và phát triển kinh tế địa phương. Luật Quốc phòng nhấn mạnh nguyên tắc kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với quốc phòng [1]. Điều này có nghĩa là các hoạt động kinh tế, bao gồm sản xuất công nghiệp, không chỉ phục vụ phát triển kinh tế mà còn là nền tảng vững chắc cho quốc phòng, tạo ra các nguồn lực cần thiết khi đất nước cần.Chính sách của Nhà nước đối với công nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp
Nhà nước có chính sách đặc biệt để phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, coi đây là bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia và là một phần thiết yếu của thực lực, tiềm lực quốc phòng, an ninh [2]. Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này thông qua các chính sách, cơ chế đặc thù, xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng (vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ dân sinh). Mục tiêu là tận dụng và phát triển liên kết giữa công nghiệp quốc phòng, an ninh và công nghiệp dân sinh, huy động tối đa thành tựu của nền công nghiệp quốc gia để phục vụ quốc phòng, an ninh [2]. Do đó, xưởng của anh hoàn toàn có thể tìm hiểu các cơ hội để tham gia vào chuỗi cung ứng hoặc sản xuất các sản phẩm có tính lưỡng dụng, góp phần trực tiếp vào tiềm lực quốc phòng của đất nước.Phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc phòng
Luật Quốc phòng quy định các vấn đề cơ bản về quốc phòng, bao gồm cả việc bảo đảm quốc phòng và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức cũng như quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng [3]. Điều này cho thấy việc xây dựng tiềm lực quốc phòng là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó có vai trò quan trọng của các doanh nghiệp và cá nhân như anh.verified_user
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạo — Nền tảng Tư Vấn Nhanh
verifiedKiểm duyệt bởi Võ Trung Tín · Phan Law Vietnam
gavelChú thích pháp lý
[1]
Nguyên tắc hoạt động quốc phòng · Luật Quốc phòng 2018
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 22/2018/QH14
Nội dung điều luật
Điều 3. Nguyên tắc hoạt động quốc phòng
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.
2. Củng cố, tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
3. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân.
4. Kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với quốc phòng.
5. Kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại.
[2]
Công nghiệp quốc phòng, an ninh · Luật số 23/VBHN-VPQH (VBHN) năm 2018
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 23/VBHN-VPQH
Nội dung điều luật
Điều 12. Công nghiệp quốc phòng, an ninh
1. Công nghiệp quốc phòng, an ninh là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực, tiềm lực quốc phòng, an ninh, là ngành đặc thù, có nhiệm vụ nghiên cứu phát triển, sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị, vật tư, thiết bị kỹ thuật và các sản phẩm khác phục vụ quốc phòng, an ninh bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Nhà nước có chính sách, cơ chế đặc thù, xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; tăng cường tiềm lực, tận dụng và phát triển liên kết công nghiệp quốc phòng, an ninh và công nghiệp dân sinh; huy động tối đa thành tựu của nền công nghiệp quốc gia phục vụ công nghiệp quốc phòng, an ninh; đầu tư có trọng điểm cho vũ khí, trang bị công nghệ cao; phát huy nội lực kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế.
3. Chính phủ chỉ đạo xây dựng quy hoạch, kế hoạch, đề án để phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
4. Nguyên tắc, chính sách, nhiệm vụ, tổ chức hoạt động, quy hoạch, kế hoạch, nguồn lực, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật về công nghiệp quốc phòng, an ninh và quy định khác của pháp luật có liên quan.
[3]
Phạm vi điều chỉnh · Luật Quốc phòng 2018
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 22/2018/QH14
Nội dung điều luật
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc, chính sách, hoạt động cơ bản về quốc phòng; tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm; lực lượng vũ trang nhân dân; bảo đảm quốc phòng; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức; quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng.