domainDoanh nghiệp

Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính ERPA

visibility0 lượt xemgavel4 trích dẫn pháp lýupdate9/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personAnh N.M.H· Quảng Bình· Chủ rừng

Tôi là anh Hùng, chủ rừng ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Gần đây tôi nghe nói nhiều về cái gọi là 'ERPA' liên quan đến việc giảm phát thải khí nhà kính từ rừng. Tôi không hiểu rõ ERPA là gì và nó có liên quan gì đến quyền lợi của những người như chúng tôi, những người đang giữ rừng tự nhiên không? Liệu tôi có được hưởng lợi gì từ thỏa thuận này không?

task_altTrả lời

Trả lời

Chào anh Hùng, tôi hiểu anh đang quan tâm đến Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) và những tác động của nó đến quyền lợi của những người chủ rừng như anh. Đây là một vấn đề rất quan trọng đối với các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ.

ERPA là gì và bối cảnh áp dụng

ERPA là viết tắt của Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ. Đây là một thỏa thuận quan trọng được ký kết vào ngày 22 tháng 10 năm 2020 giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của Việt Nam và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD). Mục tiêu chính của thỏa thuận này là để Việt Nam nhận được khoản chi trả cho những nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính từ rừng. Cụ thể, IBRD sẽ chuyển giao lại cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khoảng 95% lượng giảm phát thải đã ký kết, cùng với lượng bổ sung (nếu có), để sử dụng cho Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.

Nghị định 107/2022/NĐ-CP quy định rõ về việc thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính của thỏa thuận này. Phạm vi áp dụng của Nghị định là đối với các hoạt động liên quan đến giảm phát thải và hấp thụ khí nhà kính từ rừng tự nhiên tại 06 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế [1]. Như vậy, tỉnh Quảng Bình của anh hoàn toàn nằm trong phạm vi điều chỉnh của ERPA.

Quyền lợi của chủ rừng từ ERPA

Với tư cách là chủ rừng tại Quảng Bình, anh Hùng và những người như anh chính là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ ERPA. Nguồn thu từ ERPA được xem là nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đối với loại hình dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh [2].

Cụ thể, Nghị định quy định rõ chủ rừng theo Điều 8 Luật Lâm nghiệp được giao quản lý rừng tự nhiên là một trong những đối tượng hưởng lợi từ ERPA [4]. Điều này có nghĩa là những nỗ lực của anh và cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên sẽ được ghi nhận và chi trả. Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam sẽ tiếp nhận nguồn tiền từ ERPA, sau đó điều phối cho Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh (ví dụ như Quỹ tại Quảng Bình), và Quỹ cấp tỉnh sẽ thực hiện chi trả cho các đối tượng hưởng lợi như anh [4].

Nguyên tắc và cơ chế chuyển nhượng

Việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải được xác định theo thỏa thuận trong ERPA [2]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đóng vai trò là cơ quan thay mặt Chính phủ Việt Nam và các chủ rừng để quản lý và sử dụng kết quả giảm phát thải từ rừng tự nhiên tại 06 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ trong thời gian thực hiện ERPA [3]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ thực hiện việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính cho Quỹ Đối tác các-bon lâm nghiệp ủy thác qua Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế theo ERPA [3].

Điều quan trọng là kết quả giảm phát thải đã được chuyển nhượng theo ERPA thì không được chuyển nhượng cho đối tác khác [2], đảm bảo tính minh bạch và tránh việc bán trùng. Nguồn thu này sẽ được theo dõi và hạch toán riêng với các nguồn thu dịch vụ môi trường rừng khác, và việc chi trả sẽ được thực hiện bằng tiền Đồng Việt Nam [2].

smart_toy
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạoNền tảng Tư Vấn Nhanh

gavelChú thích pháp lý