domainDoanh nghiệp

Sở hữu gián tiếp cổ phần tổ chức tín dụng

visibility0 lượt xemgavel2 trích dẫn pháp lýupdate9/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personAnh T.V.H· TP.HCM· Chủ doanh nghiệp

Chào chuyên gia, tôi là anh Trần Văn Hùng, chủ một doanh nghiệp ở Quận 1, TP.HCM. Tôi đang có ý định đầu tư vào một ngân hàng thương mại cổ phần nhưng nghe nói có quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần, đặc biệt là sở hữu gián tiếp. Vợ tôi và anh trai tôi cũng đang tính mua cổ phần ở đó. Vậy sở hữu gián tiếp được tính như thế nào và có ảnh hưởng gì đến tổng tỷ lệ sở hữu của gia đình tôi không?

task_altTrả lời

Trả lời

Sở hữu gián tiếp cổ phần tổ chức tín dụng là gì?

Chào anh T.V.H, vấn đề anh quan tâm về sở hữu gián tiếp cổ phần trong tổ chức tín dụng là một quy định rất quan trọng nhằm đảm bảo sự minh bạch và ổn định của hệ thống tài chính. Theo định nghĩa, sở hữu gián tiếp là việc một tổ chức hoặc cá nhân sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần của một tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư. Điều này có nghĩa là ngay cả khi anh không trực tiếp đứng tên trên toàn bộ số cổ phần, nhưng nếu những người thân thiết hoặc các bên anh ủy thác đầu tư nắm giữ cổ phần, thì số cổ phần đó vẫn được tính vào tổng mức sở hữu của anh.

Tầm quan trọng của quy định về sở hữu gián tiếp

Quy định về sở hữu gián tiếp được đặt ra chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức tín dụng (như ngân hàng) nhằm ngăn chặn tình trạng tập trung quyền lực quá mức vào một nhóm cá nhân hoặc tổ chức, từ đó giảm thiểu rủi ro thao túng, đảm bảo sự lành mạnh và an toàn của hệ thống ngân hàng. Mặc dù Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2022 quy định về hoạt động chung của doanh nghiệp, bao gồm cả các công ty cổ phần [1], nhưng các quy định chi tiết về sở hữu cổ phần trong tổ chức tín dụng lại được quy định cụ thể trong Luật Các tổ chức tín dụng.

Cách tính tỷ lệ sở hữu và giới hạn đối với anh Hùng

Đối với trường hợp của anh, việc vợ và anh trai anh cũng mua cổ phần tại cùng một ngân hàng thương mại cổ phần sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tổng tỷ lệ sở hữu của gia đình anh. Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2025 quy định rõ ràng về tỷ lệ sở hữu cổ phần [2]. Cụ thể:

* Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu cổ phần vượt quá 05% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng [2]. * Quan trọng hơn, cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng [2].

Khoản 5 Điều 63 của Luật này cũng nêu rõ rằng tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định cho cá nhân (05%) và tổ chức (10%) bao gồm cả số cổ phần sở hữu gián tiếp. Đồng thời, tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định cho cổ đông và người có liên quan (15%) cũng bao gồm cả cổ phần do cổ đông ủy thác cho tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần và không bao gồm sở hữu cổ phần của người có liên quan là công ty con của cổ đông đó theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 4 của Luật này [2].

Điều này có nghĩa là, khi tính toán tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần của anh và gia đình tại ngân hàng, cơ quan quản lý sẽ cộng gộp số cổ phần anh trực tiếp sở hữu, số cổ phần vợ anh sở hữu, và số cổ phần anh trai anh sở hữu (vì họ được xem là người có liên quan). Nếu tổng số này vượt quá 15% vốn điều lệ của ngân hàng, thì gia đình anh sẽ vi phạm quy định về giới hạn sở hữu cổ phần.

Vì vậy, anh và gia đình cần tính toán kỹ lưỡng tổng số cổ phần dự định mua để đảm bảo không vượt quá giới hạn 15% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng đó.

smart_toy
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạoNền tảng Tư Vấn Nhanh

gavelChú thích pháp lý