Quyền thương mại chung trong nhượng quyền thương mại
“Chào Tuvannhanh.com, tôi là chủ một chuỗi cà phê đang rất thành công ở TP. Hồ Chí Minh. Tôi đang muốn mở rộng mô hình kinh doanh ra các tỉnh khác và thậm chí là ra nước ngoài bằng cách cấp quyền thương mại chung (master franchise). Tôi nghe nói hình thức này phức tạp hơn nhượng quyền thông thường. Vậy tôi cần phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể cấp quyền thương mại chung theo quy định pháp luật Việt Nam?”
Trả lời
Quyền thương mại chung (hay còn gọi là Master Franchise) là một hình thức nhượng quyền đặc biệt, cho phép Bên nhượng quyền ban đầu trao cho một Bên nhượng quyền thứ cấp quyền được phép cấp lại quyền thương mại cho các Bên nhận quyền thứ cấp khác trong một khu vực hoặc lãnh thổ nhất định. Điều này có nghĩa là, Bên nhượng quyền thứ cấp sẽ đóng vai trò như một "nhà nhượng quyền" tại khu vực đó, nhưng bản thân họ lại không được phép cấp lại cái quyền thương mại chung này cho một bên thứ ba nữa. Đây là một cơ chế hiệu quả để mở rộng quy mô kinh doanh nhanh chóng, đặc biệt là vào các thị trường mới.
Điều kiện để cấp Quyền thương mại chung
Để có thể cấp quyền thương mại, bao gồm cả quyền thương mại chung, Bên nhượng quyền cần đáp ứng các điều kiện cụ thể được quy định trong pháp luật Việt Nam. Theo Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây
[4]:* Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm. Điều này đảm bảo rằng mô hình kinh doanh đã được kiểm chứng và có tính khả thi. * Trường hợp chị là Bên nhận quyền sơ cấp từ một Bên nhượng quyền nước ngoài và muốn cấp lại quyền thương mại (dưới dạng quyền thương mại chung) thì chị phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi thực hiện việc cấp lại này
[4]. * Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định. * Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại không vi phạm các quy định pháp luật.Đối tượng và phạm vi áp dụng
Nghị định số 35/2006/NĐ-CP áp dụng cho cả thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại
[2]. Điều này có nghĩa là dù chị là doanh nghiệp Việt Nam hay có liên quan đến yếu tố nước ngoài, các quy định này đều chi phối hoạt động của chị. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là toàn bộ hoạt động nhượng quyền thương mại trên lãnh thổ Việt Nam [1].Cơ quan quản lý nhà nước
Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động nhượng quyền thương mại trong phạm vi cả nước. Cơ quan này có nhiệm vụ quản lý thống nhất về mặt nghiệp vụ, hướng dẫn thực hiện các chính sách, quy định pháp luật và tổ chức đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại
[3]. Do đó, việc đăng ký và tuân thủ các quy định của Bộ là rất quan trọng khi chị muốn triển khai mô hình này.