Quy định về sở hữu gián tiếp vốn điều lệ của tổ chức tín dụng
“Chào chuyên gia, tôi là chị Hằng, một doanh nhân ở Quận 3, TP.HCM. Tôi đang có ý định đầu tư mua cổ phần vào một ngân hàng thương mại. Chồng tôi và em trai tôi cũng muốn mua cổ phần của ngân hàng này. Tôi nghe nói có quy định về tỷ lệ sở hữu gián tiếp và người có liên quan, không biết trường hợp của gia đình tôi có bị vướng vào các giới hạn này không ạ? Tôi lo lắng nếu tổng số cổ phần của cả gia đình vượt quá mức cho phép thì sẽ gặp rắc rối pháp lý.”
Trả lời
Sở hữu gián tiếp và giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần trong tổ chức tín dụng
Chào chị Hằng, trường hợp của chị và gia đình là một vấn đề pháp lý rất quan trọng khi đầu tư vào các tổ chức tín dụng. Pháp luật Việt Nam có những quy định chặt chẽ về tỷ lệ sở hữu cổ phần để đảm bảo sự ổn định và minh bạch của hệ thống ngân hàng.
Sở hữu gián tiếp được hiểu là việc tổ chức, cá nhân sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần của tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư. Điều này có nghĩa là, ngay cả khi chị không trực tiếp đứng tên tất cả cổ phần, nhưng nếu chồng hoặc em trai chị mua cổ phần, thì tổng số cổ phần đó có thể được tính gộp vào tỷ lệ sở hữu của chị hoặc nhóm người có liên quan.
Theo quy định hiện hành, cụ thể tại Luật số 32/2025/QH15 về các tổ chức tín dụng
[1], tỷ lệ sở hữu cổ phần được quy định như sau: * Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu cổ phần vượt quá 05% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng [1]. * Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu cổ phần vượt quá 10% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng [1]. * Quan trọng nhất đối với trường hợp của chị: Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng [1].Khoản 5 Điều 63 của Luật này cũng làm rõ rằng, tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này (05% và 10%) bao gồm cả số cổ phần sở hữu gián tiếp
[1]. Đối với giới hạn 15% cho cổ đông và người có liên quan, tỷ lệ này bao gồm cả cổ phần do cổ đông ủy thác cho tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần [1].Áp dụng vào trường hợp của chị Hằng
Trong trường hợp của chị, chồng chị và em trai chị được xem là người có liên quan của chị theo quy định pháp luật. Do đó, tổng số cổ phần mà chị, chồng chị và em trai chị cùng sở hữu (dù đứng tên riêng lẻ) sẽ được cộng gộp lại để tính vào giới hạn 15% vốn điều lệ của ngân hàng mà chị muốn đầu tư.
Ví dụ: Nếu chị Hằng sở hữu 4%, chồng chị sở hữu 6% và em trai chị sở hữu 3% vốn điều lệ, tổng cộng là 13%. Con số này vẫn nằm trong giới hạn 15%. Tuy nhiên, nếu tổng sở hữu của cả ba người vượt quá 15%, thì gia đình chị sẽ vi phạm quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần.
Lưu ý và khuyến nghị
Để đảm bảo tuân thủ pháp luật, chị Hằng và gia đình cần: