Người được ủy quyền công bố thông tin trong doanh nghiệp và trách nhiệm pháp lý
“Chào chuyên gia, tôi là Trưởng phòng Hành chính tại một công ty sản xuất ở Quận 1, TP.HCM. Sắp tới, công ty chúng tôi cần bổ nhiệm một người phụ trách công bố thông tin theo quy định. Tôi đang băn khoăn không rõ người được ủy quyền này cần có những thẩm quyền cụ thể nào, đặc biệt là về việc ký và đóng dấu các văn bản công bố, và liệu công ty có thể đối mặt với rủi ro pháp lý gì nếu việc này không được thực hiện đúng cách?”
Trả lời
1. Vai trò và thẩm quyền của Người được ủy quyền công bố thông tin
Người được ủy quyền công bố thông tin là cá nhân được doanh nghiệp chính thức ủy quyền để thực hiện các hoạt động liên quan đến việc công bố thông tin theo quy định pháp luật. Vai trò này đặc biệt quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Về thẩm quyền, người này phải có khả năng ký và đóng dấu các văn bản công bố thông tin theo đúng quy định nội bộ của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp cần có một quy chế hoặc văn bản ủy quyền rõ ràng, xác định phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của người được ủy quyền, cũng như quy trình ký, đóng dấu để đảm bảo tính hợp lệ của thông tin được công bố.
2. Tầm quan trọng của quy định nội bộ và sự tuân thủ
Việc xác định rõ thẩm quyền và quy trình nội bộ không chỉ giúp người được ủy quyền thực hiện đúng chức trách mà còn là cơ sở để doanh nghiệp quản lý rủi ro pháp lý. Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, là văn bản quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, áp dụng đối với các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động doanh nghiệp
[1]. Mặc dù Điều 3 của Nghị định này chủ yếu đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp xã hội[2], nhưng nguyên tắc về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật và quy định nội bộ là chung cho mọi loại hình doanh nghiệp, bao gồm cả trách nhiệm trong việc công bố thông tin.3. Rủi ro pháp lý và các chế tài xử phạt
Nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng các quy định về người công bố thông tin hoặc việc công bố thông tin, có thể đối mặt với các mức phạt hành chính. Cụ thể, theo Điều 42 của Thông tư số 163/2006/NĐ-CP sửa đổi Thông tư số 226/2010/TT-BTC (VBHN), các hành vi vi phạm có thể bị xử phạt như sau
[3]:* Phạt cảnh cáo đối với hành vi không thực hiện đăng ký, đăng ký lại người công bố thông tin hoặc người được ủy quyền công bố thông tin, hoặc không ban hành quy chế về công bố thông tin. * Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nếu không tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về phương tiện, hình thức hoặc ngôn ngữ công bố thông tin. * Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng nếu công bố thông tin không đúng thời hạn hoặc không đầy đủ nội dung theo quy định pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Để tránh các rủi ro này, công ty chị cần đảm bảo việc bổ nhiệm và ủy quyền cho người công bố thông tin được thực hiện minh bạch, rõ ràng, có quy chế nội bộ cụ thể về thẩm quyền ký, đóng dấu, và tuân thủ chặt chẽ các quy định về công bố thông tin theo pháp luật hiện hành.