Hành vi cạnh tranh không lành mạnh và quyền tự bảo vệ doanh nghiệp
“Chào luật sư, tôi có một cửa hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Gần đây, có một cửa hàng đối thủ ở gần đó liên tục tung tin đồn thất thiệt về chất lượng sản phẩm của tôi, thậm chí còn sao chép một số mẫu mã độc quyền của tôi. Tôi rất lo lắng vì việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu và uy tín. Tôi có thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?”
Trả lời
Trường hợp của Chị H.T.L đang gặp phải là một ví dụ điển hình về hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà pháp luật Việt Nam nghiêm cấm. Việc đối thủ tung tin đồn thất thiệt và sao chép mẫu mã sản phẩm không chỉ gây thiệt hại về doanh thu mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín kinh doanh của chị.
Hiểu về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được định nghĩa là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Luật Cạnh tranh 2004 quy định rõ về các hành vi này và phạm vi điều chỉnh của luật bao gồm cả hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh
[1].Các hành vi mà đối thủ của chị đang thực hiện như tung tin đồn thất thiệt nhằm bôi nhọ sản phẩm của chị và sao chép mẫu mã độc quyền của cửa hàng chị rõ ràng là những hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức kinh doanh và gây thiệt hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị. Pháp luật bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh và yêu cầu việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác
[2].Quyền tự bảo vệ của doanh nghiệp
Khi đối mặt với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Chị H.T.L có quyền và cần chủ động thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Cụ thể, đối với hành vi sao chép mẫu mã, đây có thể là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của chị (nếu các mẫu mã đó đã được đăng ký bảo hộ hoặc được pháp luật bảo hộ tự động). Theo quy định, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp tự bảo vệ
[3]: