Định nghĩa và trách nhiệm pháp lý của Bản tin thông tấn
“Chào Tuvannhanh.com, tôi là Anh N.V.H, một phóng viên trẻ ở một cơ quan báo chí tại Quận 1, TP.HCM. Cơ quan tôi đang có ý định ra mắt một ấn phẩm định kỳ chuyên về tin tức kinh tế địa phương. Sếp tôi có hỏi liệu ấn phẩm này có được xem là 'bản tin thông tấn' không và có cần tuân thủ quy định gì đặc biệt không khi xuất bản? Tôi hơi bối rối về thuật ngữ này và các quy định liên quan.”
Trả lời
"Bản tin thông tấn" là gì?
Theo quy định pháp luật, cụ thể là Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (51/2002/NĐ-CP), "Bản tin thông tấn" được hiểu là một loại hình của báo in [1].Báo in là tên gọi loại hình báo chí được thực hiện bằng phương tiện in, bao gồm báo, tạp chí, bản tin thời sự, và bản tin thông tấn
[1]. Mặc dù định nghĩa cụ thể về "bản tin thông tấn" trong văn bản này không được nêu chi tiết như định nghĩa bạn cung cấp (ấn phẩm định kỳ đăng tin có tính chuyên đề của cơ quan thông tấn nhà nước như văn hóa, thể thao, kinh tế), nhưng có thể hiểu rằng ấn phẩm định kỳ chuyên về tin tức kinh tế địa phương của cơ quan bạn có khả năng thuộc vào nhóm này nếu nó được thực hiện bằng phương tiện in và có tính chất thông tin chuyên đề.Phân loại và trách nhiệm của cơ quan báo chí
Khi ấn phẩm của cơ quan bạn được xếp vào loại hình báo in, nó đồng nghĩa với việc nó là một phần của báo chí [1].Với tư cách là một cơ quan báo chí, đơn vị của bạn sẽ phải thực hiện quyền tự do báo chí và đồng thời có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam
[2].Cụ thể, cơ quan báo chí có trách nhiệm tiếp nhận và đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và các tác phẩm báo chí khác của công dân có nội dung phù hợp với tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, định hướng thông tin và không vi phạm các quy định pháp luật
[2]. Trong trường hợp không đăng, phát, cơ quan báo chí có trách nhiệm trả lời tác giả bằng văn bản hoặc đăng, phát trên báo chí bằng hình thức hộp thư, nhắn tin trong thời hạn chậm nhất là ba mươi (30) ngày [2].