domainDoanh nghiệp
Dịch vụ quản lý bất động sản và các quy định liên quan
visibility0 lượt xemgavel4 trích dẫn pháp lýupdate10/5/2026verifiedĐã kiểm tra hiệu lực
helpCâu hỏi
personChị M· TP.HCM· Chủ tòa nhà văn phòng
“Chị M, chủ sở hữu một tòa nhà văn phòng cho thuê ở Quận 1, TP.HCM, đang muốn tìm một đơn vị chuyên nghiệp để quản lý tòa nhà. Chị thắc mắc liệu các đơn vị cung cấp dịch vụ này có phải tuân thủ quy định gì đặc biệt không, đặc biệt là các quy định về nhận diện khách hàng và nguyên tắc hoạt động để đảm bảo quyền lợi của chị.”
task_altTrả lời
Trả lời
Dịch vụ quản lý bất động sản: Hiểu rõ bản chất
Dịch vụ quản lý bất động sản là hoạt động mà tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản được chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng bất động sản ủy quyền. Mục đích là thực hiện việc bảo quản, giữ gìn, trông coi, vận hành và khai thác bất động sản theo hợp đồng. Hoạt động kinh doanh bất động sản nói chung và dịch vụ quản lý bất động sản nói riêng phải tuân thủ Luật Kinh doanh bất động sản 2006 và các quy định pháp luật liên quan[1].Đối tượng và nguyên tắc áp dụng
Các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản tại Việt Nam, bao gồm cả những người cung cấp dịch vụ quản lý bất động sản, đều là đối tượng áp dụng của Luật Kinh doanh bất động sản[2]. Khi hoạt động, họ phải tuân thủ các nguyên tắc như bình đẳng trước pháp luật, tự do thỏa thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, và đặc biệt là phải hoạt động công khai, minh bạch[3]. Điều này đảm bảo rằng các hoạt động quản lý tài sản của chị M sẽ được thực hiện một cách rõ ràng và hợp pháp.Trách nhiệm nhận biết khách hàng
Một điểm quan trọng mà chị M cần lưu ý là trách nhiệm của các đơn vị cung cấp dịch vụ quản lý bất động sản trong việc nhận biết khách hàng. Theo quy định hiện hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản phải áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng đối với bên mua, bên bán trong hoạt động môi giới mua, bán bất động sản[4]. Mặc dù quy định này thường nhấn mạnh vào hoạt động môi giới mua bán, nhưng trong bối cảnh quản lý tài sản, việc xác minh thông tin chủ sở hữu và các bên liên quan là cần thiết để đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch của giao dịch, tránh các rủi ro pháp lý.smart_toy
Biên soạn bởi
Ban Pháp lý Trí tuệ Nhân tạo — Nền tảng Tư Vấn Nhanh
gavelChú thích pháp lý
[1]
Phạm vi điều chỉnh · Luật Kinh doanh bất động sản 2006
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 63/2006/QH11
Nội dung điều luật
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về hoạt động kinh doanh bất động sản; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản và giao dịch bất động sản có liên quan đến kinh doanh bất động sản.
[2]
Đối tượng áp dụng · Luật Kinh doanh bất động sản 2006
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 63/2006/QH11
Nội dung điều luật
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản tại Việt Nam.
2. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản tại Việt Nam.
[3]
Nguyên tắc hoạt động kinh doanh bất động sản · Luật Kinh doanh bất động sản 2006
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 63/2006/QH11
Nội dung điều luật
Điều 5. Nguyên tắc hoạt động kinh doanh bất động sản
1. Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản bình đẳng trước pháp luật; tự do thỏa thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản thông qua hợp đồng, không trái với quy định của pháp luật.
2. Bất động sản đưa vào kinh doanh phải có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Hoạt động kinh doanh bất động sản phải công khai, minh bạch.
[4]
Nhận biết khách hàng · Nghị định số 123/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 102/2022/NĐ-CP (VBHN)
✅ Hiệu lựcSố hiệu: 38/VBHN-NHNN
Nội dung điều luật
Điều 3. Nhận biết khách hàng
1. Tổ chức tài chính phải áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng trong các trường hợp sau:
a) Khi khách hàng lần đầu mở tài khoản, bao gồm tài khoản thanh toán, tài khoản tiết kiệm, tài khoản thẻ và các loại tài khoản khác;
b) Khi khách hàng lần đầu thiết lập mối quan hệ với tổ chức tài chính nhằm sử dụng sản phẩm, dịch vụ do tổ chức tài chính cung cấp;
c) Khi khách hàng thực hiện giao dịch không thường xuyên có giá trị lớn. Giao dịch không thường xuyên có giá trị lớn là giao dịch của khách hàng không có tài khoản hoặc có tài khoản thanh toán nhưng không giao dịch trong vòng 6 tháng trở lên với tổng giá trị từ 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng trở lên trong một ngày;
d) Khi thực hiện chuyển tiền điện tử nhưng thiếu thông tin về tên, địa chỉ hoặc số tài khoản của người khởi tạo;
đ) Khi nghi ngờ giao dịch hoặc các bên liên quan đến giao dịch có liên quan đến hoạt động rửa tiền;
e) Khi nghi ngờ về tính chính xác hoặc tính đầy đủ của các thông tin nhận biết khách hàng đã thu thập trước đó.
2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh trò chơi có thưởng, casino phải tiến hành các biện pháp nhận biết khách hàng đối với khách hàng có giao dịch tài chính với tổng giá trị từ 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng trở lên trong một ngày.
3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản, môi giới bất động sản và sàn giao dịch bất động sản phải áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng đối với bên mua, bên bán trong hoạt động môi giới mua, bán bất động sả